Sông chảy về đâu
Hơn ba mươi năm, tôi mới lại sang đò. Cảm giác của người con thoát thai từ sông, nhưng bạc bẽo với sông khiến tôi không khỏi nhức lòng…
Này là sông Hồng quê tôi. Dòng sông lặng thầm bồi tụ phù sa, để không biết tự bao giờ, ông cha tôi có chốn náu nương, sinh sôi đời đời kiếp kiếp.
Chúng tôi là dân ngoại bối, nằm ở ngoài đê sông Hồng. Cha tôi từng kể, năm 1971, bối vỡ, nước ngập trắng trời. Cả làng tôi phải rồng rắn chạy vào phía trong đê để tìm chỗ trú. Cha thương ngôi nhà dựng bằng bao giọt mồ hôi của những ngày tháng là sinh viên đại học.
Ngày ấy, mùa ôn thi, cha đạp xe về từ Hà Nội, tự gánh đất tôn nền, tôi vôi, đóng gạch xây nhà. Ròng rã cả năm trời ngôi nhà mới được dựng xong thì hai năm sau lũ ập về làng. Ông xót quá, đóng bè chuối bơi sang thăm “công trình” của cả đời mình. Nước ngập lưng mái ngói. Cứ thế, ngày ngày ông bơi sang, lấy chiếc chổi tre cọ đi từng ngấn bùn trên bốn bức tường.
Rồi lũ rút, dân làng tôi lại đùm đúm trở về, cầu mong sông mẹ không nổi giận thêm lần nào nữa.
Lũ đi, để lại những bãi đất mỡ màu, phù sa sánh đỏ. Lại mươn mướt ngô khoai. Lại ngọc ngà dâu, lạc.
Tuổi thơ bên sông
Những cánh trắng mỏng manh chấp chới trên sóng nước làm xôn xao bao tháng năm thơ ấu của lũ trẻ nghèo.
Tuổi thơ của chúng tôi gắn với sông. Giêng, hai, chúng tôi mang theo chiếc rổ tre để vợt con vờ. Những cánh trắng mỏng manh chấp chới trên sóng nước làm xôn xao bao tháng năm thơ ấu của lũ trẻ nghèo.
Tháng năm, chúng tôi dậy từ tờ mờ đất, đi dọc theo bờ sông bắt giun về cho bầy ngan. Tháng sáu, lang thang cắp rá đi mót lạc; tháng bảy, tháng tám lẽo đẽo kiếm lá dâu về nuôi tằm; cuối năm, lại rạc rài quang gánh theo mẹ mót củi, nhặt gốc đay về đun…
Ngày đó, bờ sông thoải, tôi hay thẩn thơ nhặt vỏ sò, vỏ hến, ngắm những chiếc sà lan chầm chậm trôi, những chiếc tàu khổng lồ chở khách, hay chiếc thuyền con của bác chài đang lặng lẽ buông câu trên khói sóng ảo huyền.
Lắm hôm quên nhiệm vụ, nắng đã chạy ngang đầu, tôi cắp giỏ trở về, lòng thầm ước được đặt chân sang bên bờ kia, được chạy dọc theo sông, để biết sông về đâu xa lắc.
Ý nghĩ đó nảy sinh từ bao lần tôi theo mẹ ra bến Phù Sa những buổi phiên chợ Chảy. Mẹ gánh nhãn sang bên kia sông bán cho người Hà Nội, có khi là bầy chó con, mèo con, hay đàn gà mới nở mẹ mang đi bán nữa.
Mẹ đợi từ tinh mơ, mà đò thì chậm chạp. Ngày đó, đò máy còn chưa có, mẹ đợi hoài, chỉ biết cong cổ mà gọi: “Đò ơiiiiii, đò ơiiiiii…”. Tiếng gọi ấy đã đi vào tuổi thơ tôi như một thanh âm đầy khắc khoải.
Rồi đò tới, mẹ cuống cuồng bước lên vì sợ trễ tràng. Còn tôi, cứ đứng nhìn theo, xa mãi, đưa tay vẫy vẫy cho tới khi con đò chạm mũi vào bờ kia mướt óng mía, ngô. Những lúc ấy, tôi thấy dòng sông sao mà hiền thương đến lạ.
Mùa hè năm mười hai tuổi, tôi đã cưỡng lời cha mà vụng trộm theo lũ bạn sang bên bờ kia trong một buổi trưa ngợp nắng. Lần đầu tiên sang sông, lần đầu tiên dám bước qua nỗi sợ hãi của lòng mình, tôi không thể nào quên được.
Đặt chân lên bờ cát, tôi choáng ngợp trước thế giới mà bấy lâu tôi chỉ dám khát thèm. Những vạt cỏ hoa xanh như mộng, lau, lác, những trái thèn đen, thèn trắng, những quán hàng, nhà cửa, người, xe… Nó khác cái bến vắng đìu hiu, hút tầm mắt mới thấy một căn nhà như bên bờ sông quê tôi nhiều quá.
Lần đầu tiên sang sông, lần đầu tiên dám bước qua nỗi sợ hãi của lòng mình.
Tôi nhớ năm 1996 lũ về. Nước ồ ồ như vũ bão, cuộn xoáy, cuốn phăng những đống rơm, những chuồng gà tạm bợ, cây cối, tre pheo, thau chậu chưa chạy kịp. Nước xối vào chân đê gon, tôi nhoáng nhoàng chạy lên, chút nữa là bị lũ cuốn phăng đi mất.
Con đê tang thương, oằn oại. Bộ đội rầm rập về làng, bao người dân thức trắng đêm đóng cọc tre, đóng từng bao đất, bao cát ấp vào chỗ xoáy trong cơn mưa tầm tã. Loa truyền thanh réo gọi.
Nửa đêm, bố mẹ tôi rối rít đánh thức đàn con trở dậy sắp sách vở, quần áo vào bao tải, bắt gà vào lồng, rồi trói lợn khiêng lên xe cải tiến. Sáng hôm sau, cả nhà dắt díu nhau đi trên con đê nước mấp mé, sóng cuộn phừng phừng.
Con bé tôi chưa đầy mười lăm tuổi bấy giờ chỉ biết nhìn dòng sông mà rùng mình sợ hãi. Tháng sau, lũ rút, đê được an toàn, chúng tôi lại rồng rắn trở về trong tiếng thở phào nhẹ nhõm.
Sông cứ dẫn tôi đi
Hai mươi cây số, ngắm nhìn dòng sông mênh mang, chạy tới chân trời, tôi háo hức, sợ hãi, trào lên nỗi nhớ nhà.
Tôi mười sáu. Ngày đầu tiên xa nhà lên tỉnh học, tôi được cha dẫn đi trên con đê sông Hồng sừng sững. Hai mươi cây số, ngắm nhìn dòng sông mênh mang, chạy tới chân trời, tôi háo hức, sợ hãi, trào lên nỗi nhớ nhà.
Bao thứ bảy, chủ nhật về quê, sông cứ ở đó, lặng yên, thầm thĩ. Tôi đã không sợ hãi, không muộn phiền, cô đơn nữa. Sông cứ dẫn tôi đi và đi mãi.
Rồi dùng dằng chia biệt, tôi lạc vào phố thị, từ bấy đến tận bây giờ.
Bao mùa lũ, tôi điện về cho cha. Ông không nói nhiều, mắt trũng sâu lo lắng: “Nước báo động 3 rồi con ạ!”. Ông chỉ nói thế là tôi hiểu, bãi Giữa, bãi Dài ven sông đã ngập bỏm bang hà.
Nhưng cũng như những mùa lũ trước, sông lại thứ tha. Dù máy hút cát đêm ngày xoáy cào khiến lòng sông bật máu.
Tôi rùng mình, nghĩ đến người mẹ nằm trên bàn sản, nghe lạch xạch kéo dao - khi ai đó đoạt đi núm ruột của mình. Tôi đã không còn hạnh phúc trước những núi cát ở ven bờ, không còn tự hào vì những đoàn xe tải nối đuôi nhau mang cát đi dựng xây thành phố.
Tôi tưởng ra bãi sông vẹt mòn đi, lở xói, ập xuống bao nhiêu những đọt chuối còn chưa mở lá, bao nhiêu giấc mơ biêng biếc tuổi thơ xưa…
Nay nửa đời tóc bạc, tôi mới lại trở về - giữa lòng sông. Phà máy xình xịch sang ngang, mà sao tiếng gọi “Đò ơi” của mẹ năm nào cứ vẳng bên tai mãi.
Tôi nhắm mắt lại, vẫn thấy tấm lưng áo mốc đen đẫm mồ hôi, vẫn đôi quang gánh một bên lồng gà, bên lồng chó con nặng trĩu, vẫn thấy chiếc nón xam xám nắng mưa giơ tay vẫy bác đò mau cập bến, vẫn con đò tròng trành, tròng trành, vẫn ánh mắt thiết thao của đứa trẻ ngóng hút theo bóng mẹ sang bờ…
Tôi nheo mắt tìm. Bãi đay xưa chỉ còn trong cổ tích. Loài cây ấy đã chính thức bị khai tử khỏi bãi sông mấy chục năm rồi. Bãi Dài mướt mát ngô dâu đã bị thu ngắn lại bởi bàn tay ai tàn nhẫn.
Không có bóng dáng của bất kì đứa trẻ nào - dù đang chính hạ. Chỉ có những cột khói lò gạch sừng sững, lặng câm nhả khói lên tận mây trời.
Tôi dẫn đàn con của mình sang sông, để chúng biết đây là dòng sông quê mẹ.
Đơn giản, tôi không muốn mình giống Nhĩ trong “Bến quê” của Nguyễn Minh Châu. Dù như Tuấn - con trai Nhĩ, chúng cũng chẳng hài lòng mà hỏi: “Mình sang sông để làm gì vậy mẹ?”.
Đò cập bến Văn Nhân, tôi dẫn đàn con đến bên quán nước, loanh quanh, mua dăm chiếc kẹo vừng. Tiếng khanh khách cười đùa của tụi bạn năm xưa lại vang lên, ánh mắt biếc xanh của cô bé tuổi mười hai vụt hiện…






